Hiển thị các bài đăng có nhãn Bào chế. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bào chế. Hiển thị tất cả bài đăng

Phân biệt độ cồn, độ cồn thực, độ cồn biểu kiến

Trong các loại cồn, cồn etylic (C2H5OH) được sử dụng rộng rãi nhất trong ngành Dược. Nó có thể hoà tan các acid, các kiềm hữu cơ, các ancaloid và muối của chúng.
Phân biệt độ cồn, độ cồn thực, độ cồn biểu kiến


Đặc điểm của cồn etylic

Cồn có ưu điểm là có tác dụng sát trùng. Một số dược chất vững bền trong cồn hơn là nước. Còn có tác dụng bảo quản và góp phần vào việc tăng cường tác dụng điều trị của thuốc.

Nhược điểm của cồn là không hoàn toàn trơ về mặt dược lý, dễ bay hơi, dễ cháy làm đông vón anbumin, các enzym và dễ bị oxy hoá.

Cần chú ý, khi trộn lẫn etylic với nước sẽ có hiện tượng toả nhiệt và thể tích hỗn hợp thu được nhỏ hơn tổng thể tích của cồn và nước tham gia vào hỗn hợp.

Phân biệt độ cồn, độ cồn thực, độ cồn biểu kiến

  • Độ cồn: là số mililit ethanol nguyên chất có trong 100 mililit dung dịch cồn.
  • Độ cồn thực: là độ cồn đo được bằng alcol kế ở nhiệt độ 150C.
  • Độ cồn biểu kiến: là độ cồn đo được bằng alcol kế không phải ở nhiệt độ 150C.
Trong thực tế cồn đo được thường là độ cồn biểu kiến, nên cần phải chuyển sang độ cồn thực bằng một trong hai cách sau:

Nếu độ cồn biểu kiến nhỏ hơn 560 thì áp dụng công thức qui đổi sau:
T = B – 0,4 (t0C – 150C)
Trong đó: T : độ cồn thực cần xác định
B : độ cồn biểu kiến đo được
t0C : nhiệt độ của cồn lúc đo
0,4 : hệ số điều chỉnh

Ví dụ 1 : Độ cồn đo được là 420 ở 100 C, thì độ cồn thực sẽ là:
T = 42 – 0,4 (10 – 15) = 440
Ví dụ 2 : Độ cồn đo được là 500 ở 250 C, thì độ cồn thực sẽ là:
T = 50 – 0,4 (25 – 15) = 460

Nếu độ cồn biểu kiến lớn hơn 560, thì ta phải tra “bảng tìm độ cồn thực” ở DĐVN hoặc các tài liệu chuyên môn khác (Bảng Gaylucssac).
Ví dụ 3 : Độ cồn đo được 600 ở 200C, tra bảng sẽ được độ cồn thực là 58,20.

Khái niệm "Hòa tan" & "Độ hòa tan"

Hòa tan là phân tán một chất hay nhiều chất vào trong một môi trường phân tán lỏng để được một hệ đồng nhất gọi là dung dịch. Chất bị phân tán gọi là chất tan. Môi trường phân tán gọi là dung môi. Chất tan được chiếm tỷ lệ nhỏ hơn dung môi, có thể là chất rắn (đường, muối), chất lỏng (cồn, tinh dầu) hoặc đôi khi có thể là chất khí (CO2, NO2).

Độ hòa tan là gì

Độ hòa tan là gì

Độ hòa tan của một chất là lượng tối đa của chất đó tan được trong một đơn vị thể tích dung môi ở một nhiệt độ nhất định. Một dung dịch như thế gọi là dung dịch bão hòa.

Các yếu tố ảnh hưởng đến độ tan và quá trình hòa tan

Các đặc tính lý hóa của chất tan và dung môi:
  • Những chất có nhiều nhóm thân nước hòa tan nhiều trong dung môi phân cực. Những chất kỵ nước hòa tan trong những dung môi không phân cực.
  • Nhiệt độ: Trong đa số trường hợp nhiệt độ không những làm tăng tốc độ hòa tan mà còn làm tăng độ tan của dược chất trong dung môi (ví dụ : AgNO3,có nồng độ bão hòa trong nước ở 300C là 74% nhưng ở 1000C là 90%. Tuy nhiên không thể làm tăng độ hòa tan bằng cách tăng nhiệt độ khi hợp chất tan là các chất dể bay hơi hay không bền ở nhiệt.
  • Áp suất bề mặt của dung môi cũng ảnh hưởng đến quá trình hòa tan.
  • Sự có mặt của chất trung gian hòa tan làm cho sự hòa tan thuận lợi bằng những cơ chế khác nhau. Thí dụ Natri salicylat và Natri benzoat giúp cafein hòa tan dễ dàng trong nước. Iod khó tan trong nước nhưng tan nhiều trong dung dich Kaliiodid.
Ngoài ra còn có các yếu tố khác như: khuấy trộn, siêu âm làm tăng độ hòa tan, PH làm tăng độ hòa tan...

Phân loại và cách sử dụng các dụng cụ nghiền tán

Các dụng cụ nghiền tán: Cối chày, máy nghiền tán.

Cối chày sứ

Cối chày

Ở phòng thí nghiệm, cối chày được dùng chủ yếu để nghiền tán và trộn đều các chất rắn, đôi khi còn được dùng để nghiền hòa tan các chất khó tan.

Phân loại:
Cối chày có nhiều cỡ và nhiều loại khác nhau, khi dùng phải lựa chọn cối chày có dung tích và bản chất phù hợp với chất cần được nghiền tán.
Các loại cối chày:
  • Cối chày bằng kim loại (đồng, sắt) tán các chất là thảo mộc, động vật, khoáng vật rắn.
  • Cối chày bằng sành sứ tán trộn các chất là hóa chất.
  • Cối chày thủy tinh tán các chất có tính oxy hóa, chất ăn mòn, hấp phụ.
  • Cối chày làm bằng mã não nghiền tán các chất cần có độ mịn cao.
Thao tác:
Nghiền tán: cho chày di chuyển rộng trong lòng cối, có thể bắt đầu từ tâm của đáy cối rồi lan rộng ra thành cối hoặc từ thành cối đi vào đáy cối,đồng thời phải tạo một lực mạnh lên khối bột.

Các máy nghiền tán

Được sử dụng trong sản xuất công nghiệp, bao gồm:
  • Máy nghiền bi
  • Máy búa, máy xay búa
  • Máy xay vòng đinh.

Kỹ thuật sử dụng các dụng cụ đong đo trong bào chế

Sử dụng các dụng cụ đong thể tích

Xem thêm: Các loại cân thường dùng trong bào chế

Kỹ thuật sử dụng các dụng cụ đong đo trong bào chế

  • Đong chất lỏng không màu thì rót từ từ chất lỏng vào ống đong đến gần ngang vạch cần đong, sau thêm từng giọt theo đũa thủy tinh vào thành ống đong đến mức vòng cung mặt thoáng của chất lỏng ngang vạch.
  • Đong chất lỏng có màu thì tương tự như trên, nhưng chỉ cần cho đến mức mặt thoáng của chất lỏng ngang vạch cần đong là được.
  • Nếu đong chất lỏng là chất độc, acid mạnh, chất gây kích ứng thì phải dùng ống hút có quả bóp cao su để lấy chất lỏng đó trong tủ hốt.
  • Đối với dung dịch mới pha cần phải để ổn định mới đọc kết quả để tránh sai số do co thể tích (như pha cồn).
  • Sử dụng ống hút, ống hút nhỏ giọt phải cầm thẳng đứng, nhỏ từ từ từng giọt kế tiếp nhau.
  • Khi dùng xong, phải rửa sạch các dụng cụ ngay, tráng nước cất, làm khô, đặt vào các giá chuyên dùng và tránh bụi.

Sử dụng các dụng cụ đo tỷ trọng

  • Chuẩn bị dụng cụ đo, nhiệt kế, ống đong thích hợp.
  • Rót chất lỏng vào ống đong thích hợp.
  • Thả từ từ dụng cụ đo theo chiều thẳng đứng vào giữa ống đong tới khi chạm đáy ống, buông tay nhẹ nhàng, không cho dụng cụ đo chạm vào thành ống.
  • Nhúng nhiệt kế vào chất lỏng trong ống đong (cho ngập quá bầu thủy ngân), theo dõi nhiệt độ đến mức ổn định, đọc và ghi nhiệt độ trên nhiệt kế.
  • Đọc và ghi kết quả ở dụng cụ đo.
  • Đối chiếu bảng, tính kết quả.
  • Rửa sạch dụng cụ, sắp xếp gọn gàng.

Các loại cân thường dùng trong bào chế

Nội dung bài các loại cân thường dùng trong bào chế gồm 2 phần:
bào chế

CÁC LOẠI CÂN THƯỜNG DÙNG

Cân phân tích:
  • Sức cân tối đa 200g
  • Sai số < 0,1mg
  • Cân phân tích có các kiểu cân một quang, cân hai quang, có dùng điện và không dùng điện.
Cân kỹ thuật: (thường sử dụng trong bào chế)
  • Sức cân tối đa 200g
  • Độ chính xác 0,02 – 0,05g
  • Có các kiểu cân: cân đĩa (cân Roberval), cân quang (cân Trébuchet).
Cách đọc thăng bằng cân:
  • Cân đĩa: Đòn cân nằm ngang và kim chỉ số 0
  • Cân quang: Kim dao động đối xứng qua số 0.
Cân thường: có nhiều loại
  • Loại nhỏ: sức cân 500g, độ chính xác 0,5g
  • Loại lớn: sức cân 5 – 10kg, độ chính xác 5 – 10g
  • Các kiểu gồm: cân đĩa, cân đồng hồ, cân đòn

LƯU Ý KHI SỬ DỤNG CÂN

  • Lau cân sạch sẽ.
  • Lót đĩa cân bằng giấy trắng, sạch có xếp chéo.
  • Khi cân phải ngồi, đứng chính diện với bảng chia độ của cân.
  • Dùng kẹp để gắp quả cân.
  • Khi cầm các chai hóa chất, nhãn chai phải hướng lên trên để dễ nhìn tiện kiểm soát và hóa chất không dính nhãn.
  • Lấy hóa chất rắn bằng vẩy mica, carton...
  • Lấy hóa chất lỏng bằng đũa thủy tinh, pipette, hoặc becher.
  • Các hóa chất dễ chảy lỏng, các chất oxy hóa mạnh phải cân trên mặt kính đồng hồ.
  • Thêm bớt hóa chất, quả cân phải nhẹ nhàng.
  • Không được thêm bớt các quả cân hoặc vật cân khi cân chưa ở trạng thái nghỉ.
  • Khi thả cân nghỉ hay cho cân dao động phải làm nhẹ nhàng tránh hư hại cho cân.
  • Xem kết quả thăng bằng khi kim chỉ số 0 hoặc khi kim dao động quanh vị trí 0.
Xem nhiều hơn trong: BÀO CHẾ

Bào chế học là gì? Nội dung nghiên cứu của môn bào chế

Định nghĩa bào chế học là gì

Bào chế học là môn khoa học chuyên nghiên cứu cơ sở lý luận & kỹ thuật thực hành về pha chế, sản xuất, kiểm tra chất lượng, đóng gói, bảo quản các dạng thuốc & các chế phẩm bào chế.
Bào chế học là gì?

Nội dung nghiên cứu của môn bào chế

Mỗi một dược chất ít khi dùng một mình mà thường kèm theo những chất phụ (tá dược) vì vậy nghiên cứu kỹ thuật điều chế thuốc gồm:
  • Xây dựng công thức: dược chất và tá dược (lượng dược chất, tá dược, tỷ lệ).
  • Xây dựng qui trình bào chế các dạng thuốc: thuốc mỡ, thuốc tiêm, thuốc viên...
  • Nghiên cứu kiểm tra chất lượng các chế phẩm của các dạng thuốc.
  • Nghiên cứu bao bì đóng gói và bảo quản các dạng thuốc.
  • Sử dụng và đổi mới trang thiết bị phục vụ chế biến, bào chế...

Mục tiêu của môn bào chế

  • Nghiên cứu dạng bào chế phù hợp với mỗi dược chất cho việc điều trị bệnh.
  • Nghiên cứu kỹ thuật bào chế các dạng thuốc bảo đảm tính hiệu nghiệm, tính không độc hại và độ ổn định của thuốc.
  • Xây dựng ngành bào chế học Việt Nam khoa học, hiện đại, dựa trên thành tựu y dược học thế giới và vốn dược học cổ truyền dân tộc.
Bạn muốn tìm hiểu thêm nữa về thuốc, hãy xem trong: BÀO CHẾ

Lịch sử phát triển của ngành bào chế học thế giới

Lịch sử môn học bào chế gắn liền với lịch sử của ngành dược học và y học nói chung. Trong thời kỳ Thượng cổ việc chế biến và dùng thuốc chỉ đóng khung trong phạm vi gia đình hay thị tộc do gia trưởng hay tộc trưởng đảm nhận.

Lịch sử phát triển của ngành bào chế học thế giới

Cùng với sự tiến bộ của xã hội loài người, dần dần những hoạt động này trở thành một chức trách xã hội do những người chuyên nghiệp phụ trách.

Xem thêm: Lịch sử phát triển của ngành bào chế Việt Nam

Thời kỳ tôn giáo
Các tài liệu như “Bản thảo thần nông” của Trung Quốc, “Vedas” của Ấn độ, “Ebers” của Ai cập… đã mô tả các dạng thuốc giống như thuốc bột, thuốc viên, thuốc cao, cao dán…

Thường thường các phương pháp trị liệu thô sơ này được khoác lên một cái vỏ huyền bí của tôn giáo và đây là trở lực chính đối với sự phát triển của nền y dược học trong thời kỳ này.

Thời kỳ triết học
Bao trùm lên thời kỳ này là danh tiếng của các thầy thuốc người Hy lạp và La mã như Platon, Socrat, Aristot, họ nhận thấy không thể tách rời y dược học với việc nghiên cứu con người, song họ vẫn còn nghiêng về lý thuyết nhiều hơn.

Năm 400 trước Công nguyên, Hypocrat là người đầu tiên đưa khoa học vào thực hành y học, ông chủ trương rằng lý luận phải dựa trên thực nghiệm. Tất cả các kiến thức của Hypocrat được tổng hợp trong từ điển “Bách khoa Y học”, sách này vẫn còn ảnh hưởng mạnh mẽ đến tận thế kỷ XVII sau này.

Từ 131 – 210 sau Công nguyên, Galien đã viết nhiều sách về y học, về thành phần của thuốc (dựa trên 4 tính: nóng, lạnh, khô, ẩm). Chính ông là người đầu tiên đề ra các công thức và cách điều chế thuốc dùng trong điều trị bệnh và phân loại các thuốc men. Dó đó ông được coi là người đặt nền móng cho ngành dược nói chung và môn bào chế học nói riêng và người ta đã lấy tên ông đặt cho môn bào chế học (Pharmacie galénique).

Thời kỳ thực nghiệm
Trong thời kỳ này các cuộc tranh luận suông đã dần dần được thay thế bằng những bài mô tả dựa trên quan sát và trên thực nghiệm.

Càng ngày người ta càng thấy rằng phải khảo sát các chất qua thực nghiệm rồi mới dùng để làm thuốc. Các thuốc có nguồn gốc hóa học được sử dụng ngày càng nhiều đã dẫn đến sự xuất hiện và phát triển một số hoạt động mới khác, làm cho ngành Dược phân biệt hẳn với ngành y. Ngành dược trở thành một ngành độc lập.

Thời kỳ khoa học
Từ thế kỷ XIX trở đi ngành dược nói chung và môn bào chế học nói riêng đã có những bước phát triển mạnh mẽ chưa từng thấy so với các thời kỳ trước nhờ sự phát triển những tiến bộ của các ngành có liên quan như hóa học, vật lý, sinh học…

Người ta đã bắt đầu thử tác dụng chữa bệnh của các hợp chất tự nhiên, các dược liệu và trình bày chúng dưới các dạng bào chế, đi sâu nghiên cứu tìm hiểu xem trạng thái vật lý và tính chất hoá học của dược chất, các chất phụ gia.

Nói cách khác, bào chế học đã đi sâu nghiên cứu từng dược chất, tìm ra dạng thuốc mới cho tác dụng dược lý tốt nhất trên cơ sở ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật của các ngành khoa học kỹ thuật có liên quan và các kết quả nghiên cứu về sinh dược học, nhiều dạng thuốc mới đã ra đời như dạng thuốc có tác dụng kéo dài, thuốc viên nhiều lớp giải phóng các dược chất ở những thời điểm khác nhau...

Ngành công nghiệp dược phẩm ra đời.

Phân biệt thuốc và dạng thuốc

Thuốc là gì

Thuốc (hay còn được gọi là dược phẩm) là sản phẩm có nguồn gốc động vật, thực vật, khoáng vật, sinh học được bào chế để dùng cho người nhằm mục đích phòng bệnh, chữa bệnh, chẩn đoán bệnh, phục hồi, điều chỉnh chức năng của cơ thể, làm giảm cảm giác một bộ phận hay toàn thân, làm ảnh hưởng quá trình sinh đẻ, làm thay đổi hình dáng cơ thể.

Định nghĩa bào chế học là gì
Phân biệt thuốc và dạng thuốc

Dạng thuốc là gì

Dạng thuốc là hình thức trình bày của dược chất để đưa dược chất đó vào cơ thể với mục đích tiện dụng, dễ bảo quản và phát huy tối đa tác dụng điều trị của dược chất. Như: dạng viên nang để uống, dạng thuốc kem để bôi ngoài da...

Thành phần của một dạng thuốc

Gồm: Dược chất, tá dược và bao bì.

Dược chất

Dược chất hay hoạt chất là tác nhân tạo tác động sinh học được sử dụng nhằm các mục đích điều trị, phòng hay chẩn đoán bệnh.

Khi đưa vào dạng thuốc, dược chất có thể bị giảm hoặc thay đổi tác động sinh học do ảnh hưởng của tá dược, kỹ thuật bào chế và bao bì. Cho nên cần phải nghiên cứu kỹ để tránh ảnh hưởng của các phụ gia (tá dược, bao bì, v.v)

Tá dược

Tá dược là các chất phụ không có tác dụng dược lý, được thêm vào trong công thức nhằm tạo ra các tính chất cần thiết cho quá trình bào chế, bảo quản, sử dụng của thuốc.

Tá dược có ảnh hưởng đến tác dụng điều trị của thuốc, do đó tá dược phải được lựa chọn một cách thận trọng tùy theo từng dạng thuốc và từng chế phẩm cụ thể.

Bao bì

Bao bì được chia làm 2 loại:
  • Bao bì cấp 1: là bao bì tiếp xúc trực tiếp với thuốc do đó cũng được xem như là thành phần của dạng thuốc. VD: Ống, lọ, chai chứa dung dịch thuốc tiêm; Vỉ hoặc chai, lọ chứa thuốc viên.
  • Bao bì cấp 2: là bao bì bên ngoài không tiếp xúc trực tiếp với thuốc. VD: Hộp giấy chứa thuốc tiêm; Hộp chứa vỉ thuốc.
Bao bì cấp 1 và bao bì cấp 1 đều quan trọng vì cùng đóng vai trò trong việc trình bày, nhận dạng, thông tin và bảo vệ thuốc.

Ngành bào chế Việt Nam trải qua mấy giai đoạn?

Nền y dược học dân tộc đã phát triển rất sớm. Từ đời Hồng bàng (2900 năm trước công nguyên), người Giao Chỉ đã biết dùng gừng, mật ong, hương phụ, thường sơn… để làm thuốc, cho trẻ em đeo các túi bùa đựng trầm hương, địa liền, hạt mùi để phòng bệnh.

Lịch sử phát triển của ngành bào chế Việt Nam

Lịch sử phát triển của ngành bào chế Việt Nam

Có thể chia thành 6 giai đoạn có chuyển biến như sau:

Thời kỳ Bắc thuộc
Đã có sự trao đổi y học của ta và y học của Trung Quốc, số dược liệu Việt nam được khai thác và sử dụng tăng dần.

Đời nhà Trần (thế kỉ XII – XIV)
Nền y dược học có nhiều tiến bộ như đã biết tổ chức trồng vườn thuốc, rừng thuốc… Tiêu biểu cho thời kỳ này là danh y Nguyễn Bá Tĩnh hiệu là Tuệ Tĩnh.

Ông có công lớn đề ra chủ trương “Nam dược trị Nam nhân” và bộ sách “Nam dược thần hiệu” còn được lưu truyền đến ngày nay.

Dưới triều Lê (TK XIV – XVII)
Danh y Lê Hữu Trác hiệu là Hải Thượng Lãn Ông với bộ sách “Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh” một bộ sách quý của nền y dược học Việt Nam. Ông đã áp dụng một cách sáng tạo y học Trung Quốc vào hoàn cảnh Việt Nam, đã xây dựng và áp dụng nhiều bài thuốc nam có giá trị, đã đào tạo được nhiều học trò. Ông là người có công lớn trong việc xây dựng ngành dược Việt Nam.

Thời kỳ Pháp thuộc
Trường đại học y dược Đông Dương được thành lập (1902), trong đó có Bộ môn bào chế (1935). Nhiều biệt dược được đưa vào nước ta, một số cửa hàng pha chế theo đơn ra đời ở các thành phố lớn, pha chế các dạng thuốc thông thường như thuốc bột, thuốc nước, thuốc mỡ…. Sự tràn lan của thuốc ngoại làm cho ngành bào chế Việt Nam bị lãng quên.

Sau Cách Mạng Tháng Tám
Ngành dược đã phát triển mạnh và đã được chú trọng xây dựng, nhiều xí nghiệp dược phẩm Trung ương được thành lập. Các khoa dược bệnh viện cũng pha chế nhiều loại thuốc nhất là các loại dịch truyền.

Sau thống nhất đất nước 1975
Từ sau thống nhất đất nước, nhiều xí nghiệp dược phẩm đã tích cực đổi mới trang thiết bị và quy trình công nghệ.

Các trang thiết bị và kỹ thuật mới được đưa vào nước ta như máy dập viên năng suất cao, máy đóng nang, máy ép vỉ, máy bao màng mỏng tự động, máy tạo hạt tầng sôi, máy đóng hàn ống tiêm tự độn….

Nhờ đó, dạng bào chế thực sự đã được đổi mới về hình thức.

Xem thêm: Lịch sử phát triển của ngành bào chế thế giới